THUẬT NGỮ VỀ CÁC KĨ NGHỆ GỐM SỨ P1

Một số thuật ngữ liên quan đến kỹ nghệ Gốm sứ cần biết.

1. ÁM HỌA: Ám họa có nghĩa là lối trang trí "ẩn, tàng dấu" hiểu theo nghĩa thông thường. Ám họa thường được áp dụng trên cốt thai trắng trước khi phủ một lớp men không màu trong suốt. Các họa tiết thường là vạch hay in chìm, và cũng có khi khá đặc biệt là những hoạ tiết được vẽ bằng bút lông trên một miếng lót. Đúng theo cái tên của nó, các họa tiết này thường khó thấy. Ám họa trở nên đặc biệt thông dụng vào thời Minh và tiếp tục được ưa chuộng ở thời Thanh.

2. AOKIN: Còn được gọi là koban; là hợp chất giữa vàng cám và bạc cám để tạo ra màu xanh lục bóng.

3. BẠCH ĐÔN TỬ: Theo nghĩa đen có nghĩa là "ngói trắng". Cái tên được bắt nguồn từ một loại đá có nguồn gốc từ Trung Quốc. Chúng là một loại gia liệu được các lò gốm Cảnh Đức Trấn rất ưa dùng trong việc chế tạo đồ sứ.

4. BÌNH CACHE: Là một loại bình trang trí thường dùng để cắm hoa, thường bằng sứ

5. BISCUIT: 1) Là một cách gọi cốt thai của đồ sứ nung cao nhiệt. 2) Là một dạng cốt gốm được nung trước khi tráng men. Có một vài loại gốm được nung hoàn toàn không cần tráng men trước khi nung. Một số sản phẩm gốm có những khoảng không được tráng men, lại có những khoảng được tráng men. Những món đồ hoặc những khoảng Biscuit như vậy có thể lại được tráng men rồi nung thêm một lần nhiệt thấp nữa.

6. BIZEN: Loại đồ gốm cao nhiệt, không tráng men có xuất xứ từ tỉnh Bizen (vùng Okayama Nhật Bản ngày nay), có đặc trưng với nước men tro tự nhiên màu vàng kim, da cam hay màu lục lam, màu tro hoặc đỏ nâu. Chúng được tạo ra bằng cách gói bán thành phẩm trong rơm rồi đem nung.

7. BLANC DE CHINE: Gốm trắng thuần khiết với nước men bóng được sản xuất từ thế kỷ 16 tại các lò gốm Đức Hóa thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.

8. BLANC DE CHINE: Một thuật ngữ bằng tiếng Pháp dùng để gọi đồ sứ trắng ngà (thế kỷ 17-18) với đồ án trang trí chìm, là sản phẩm sứ xuất khẩu của vùng gốm Đức Hoá thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.

9. CARTOUCHE: Một dải trang trí hình xoắn ốc.

10. CELADON: Đồ có nước men xanh lục được tạo ra khi trộn thêm ô xít sắt vào men. Tuy được gọi là "đồ men lục" nhưng nó có thể có nhiều màu như vàng, xám, màu lục nhạt hay lam lục nhạt, màu ánh xanh.

11. CHINOISERIE: Sản phẩm mỹ nghệ phương Tây phỏng chế theo các sản phẩm mỹ nghệ của Trung Quốc. Thuật ngữ này thường được dùng để chỉ những món đồ có niên đại từ thế kỷ 17,
18.


12. COBALT: Là loại men màu lam dùng để trang trí đồ thanh hoa.

13. ĐA SẮC: Đồ đa sắc được sản xuất từ đầu thế kỷ 16 và thông dụng trong suốt thời Minh. Loại đặc trưng là với các tông màu đỏ, xanh, vàng, hồng và đen.

14. DIAPER: Lối trang trí lặp, thường là dạng hình học như hình kim cương.

15. ĐỊNH DIÊU: Đồ sành men của Trung Quốc, được bắt đầu sản xuất từ thế kỷ thứ VIII. Đồ Định diêu thường có màu trắng trơn, hoặc được trang trí với đồ án khắc vạch, đắp nổi, khuôn ấn, hoặc chạm trổ với các mô típ chim phượng, hoa loa kèn, hoa mẫu đơn là những mô típ trang trí thông dụng. Định diêu có ba dòng sản phẩm chính là Bạch Định, Phấn Định, và Thổ Định.

16. TOUCAI (ĐA THÁI): Đồ án đa thái là đồ án có màu chủ đạo là màu xanh lục. Đây là một loại gốm có đồ án trang trí trên men của Trung Quốc lần đầu tiên được sản xuất vào thời Khang Hy mà ở đó men màu xanh được dùng làm một phần của đồ án trang trí, tiếp đến là các màu khác như màu đỏ ô xít sắt, màu lam, màu vàng và tím hoa cà được sử dụng để hoàn thiện nốt đồ án trang trí. Trong tiếng Trung Quốc, đồ án này được gọi là wuchai hoặc Yingchai (Ngũ thái). Nhưng người ta dùng thuật ngữ famille verte để chỉ đồ án Ngũ thái chỉ bắt đầu từ thời Khang Hy trở đi. Mặc dù trên thực tế đồ Ngũ thái được sản xuất từ rất sớm, từ thời Nguyên.

17. HAKUJI (BẠCH TỪ): Loại sứ trắng trơn.

18. ĐỒ ÁN MEN ĐỎ DƯỚI MEN: Đồ án trang trí men đỏ dưới men thường rất rực rỡ và biểu trưng cho không khí lễ hội, ra đời từ thời Nguyên. Đến sau này vẫn được tiếp tục sản xuất ở thời Minh, Thanh. Những món đồ có niên đại Tuyên Đức thường có màu đỏ sẫm, trong khi đồ Thành Hoá lại có màu sắc tươi sáng hơn. Nhưng lối trang trí này dần không được sử dụng từ giữa Minh, và chỉ cho tới thời Thanh Khang Hy mới được khôi phục. Có thể thấy sản phẩm của thời Ung Chính tốt hơn rất nhiều so với sản phẩm của những giai đoạn trước.

19. ĐỒ ÁN TRANG TRÍ ĐẮP: Một dạng đồ án trang trí được tạo riêng bằng khuôn hoặc bằng tay (bằng sét, kaolin) sau đó đắp lên thân cốt thai; như các đồ án song ngư, rồng, hoa cỏ nhân vật...

20. ĐỒ ÁN TRANG TRÍ KIỂU INCISED: Là những đồ án trang trí lá, hoa, văn cuốn, các đường được khắc trên cốt thai còn ẩm với dụng cụ bằng gỗ hay tre.

21. ĐỒ CANTON: Đồ sứ men Canton là một khái niệm thường dùng để gọi đồ sứ vẽ men nhiều màu. Lối vẽ men này được du nhập vào Trung Quốc từ thời Minh và được sử dụng trên các chất liệu như gốm sứ, kim loại và thuỷ tinh bằng cách đổ men vào các hộc (giống như pháp lang) hoặc bằng cách vẽ thẳng men lên bề mặt món đồ. Lối sử dụng men vẽ thẳng lên bề mặt món đồ du nhập vào Trung Quốc từ Châu Âu qua đường biển và được những người Canton học và đưa vào sử dụng, do vậy nó được gọi là đồ Canton hay đồ Quảng Châu. Trước tiên, một lớp men đục được phủ lên bề mặt món đồ rồi đem nung để được một bề mặt bóng láng. Tiếp theo nhiều men màu được vẽ lên bề mặt đó theo đồ án, sau đó đem nung lại một lần nữa, quy trình sản xuất kết thúc.

22. ĐỒ ĐẤT NUNG: Gốm đất nung (còn gọi là "Terracota"), được làm từ loại đất sét thông thường, nung ở nhiệt thấp khoảng 800-1100OC.

23. ĐỒ MEN LỤC: Là đồ sành da đá có nước men chứa ô xít sắt.

24. ĐỒ MEN MÀU CANTON: Đồ men màu Canton là tên thường gọi của loại đồ sứ được vẽ men nhiều màu. Việc sử dụng men nhiều màu trên đồ sứ, đồ đồng ở Trung Quốc được bắt đầu từ thời Thanh với nhiều kỹ thuật khác nhau như đổ men màu vào các ô trang trí (cloisonné), khảm men (champlevé), hay vẽ men trên bề mặt món đồ. Phương cách cuối cùng này có nguồn gốc từ châu Âu du nhập vào Trung Quốc qua đường biển vào đầu thời Thanh. Những người đầu tiên học và sử dụng nó là người Canton, do vậy mới có tên là đồ Canton (Quảng Châu), hay còn gọi là đồ vẽ men Canton. Trước tiên, người ta tráng một lớp men mờ mỏng lên bình đồng, sau đó đem nung để chiếc bình có bề mặt trơn. Tiếp đến, họ dùng men nhiều màu vẽ lên trên mặt chiếc bình đã được tráng men, cuối cùng lại đem chiếc bình đó nung lại lần thứ hai trước khi kết thúc chu trình sản xuất.

25. ĐỒ TRIỀU AN (CHAOAN): Đồ có màu xanh lục hoặc xanh trắng (qingbai) được sản xuất ở huyện Triều An, tỉnh Quảng Đông Trung Quốc từ thế kỷ 12.

(xuonggomsubattrang.vn sưu tầm_ còn tiếp)

Chia sẻ :

Xem thêm :

0 Comments

Gửi bình luận

* Rating     Bad           Good