THUẬT NGỮ VỀ CÁC KĨ NGHỆ GỐM SỨ P2

Một số thuật ngữ liên quan đến kỹ nghệ Gốm sứ cần biết.

26. ĐỒ TRƯỜNG SA (CHANGSHA): Gốm có cốt dày, men phủ màu da bò với nước men trong có ánh lục hoặc ánh vàng.

27. DOUCAI (ĐẤU THÁI): Còn gọi là Thanh hoa đấu thái. Nó rất được thịnh hành thời Minh. Đây là một loại hình gốm sứ thanh hoa dưới men được vẽ kết hợp với màu trên men. Thanh hoa dưới men được vẽ trước khi tráng men và được đưa vào lò nung. Sau đó, người ta dùng men cổ thái và phấn thái vẽ vào hay điểm xuyết vào các phần còn trống ở trên men để hoàn chỉnh tác phẩm. Một điều tối kị của đấu thái là không bao giờ dùng thanh hoa vẽ viền cho những mảng màu ở trên men.

28. ĐỨC HÓA: Các lò gốm Đức Hóa ở tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc sản xuất khá nhiều sản phẩm khác nhau nhưng sản phẩm đặc trưng của các lò gốm vùng này là gốm trắng với nước men không màu trong suốt và rất bóng. Những sản phẩm nổi tiếng của vùng là tượng Đạo Phật và Đạo Giáo, những loại bình như lư hương...Trong khi phần lớn các sản phẩm của Đức Hoá là gốm độc sắc trắng, một số sản phẩm của vùng này vẫn có hoạ tiết dưới men màu lam, một số khác còn mang đồ hoạ đa thái trên men.

29. HỘP GỐM: Là những món đồ bằng gốm nhỏ hình tròn hay hình vuông, thường có nắp.


30. KO-IMARI: "Ko" có nghĩa là cổ, Ko-Imari theo tiến trình lịch sử là thời kỳ sản xuất gốm sứ tiếp theo sau Shoki-Imari, và khi nhắc đến Ko-Imari là nhắc đến thể loại sứ có niên đại cuối thế kỷ 17 kéo dài tới giữa thời Edo. Cũng giống như Shoki- Imari, Ko-Imari rất được ưa chuộng và đắt đỏ, nhưng không hiếm như Shoki-Imari.

31. IRO-E: Sứ men được sản xuất bằng phương pháp phủ men màu lên trên sản phẩm đã được vẽ hoạ tiết trang trí và nung trước, thường sử dụng là cobalt xanh. Những men màu thường dùng là vàng kim, màu đỏ, xanh lá và xanh biển. Công đoạn tráng men không được thực hiện trước mà được thực hiện ngay sau những công đoạn đầu tiên của tiến trình sản xuất gốm sứ. Sứ Imari xuất khẩu nổi tiếng nhất là Imari men iro-e, thông thường theo phong cách sao cho phù hợp với sở thích của người phương Tây.

32. KAKIEMON: Được biết đến là sản phẩm của những người thợ gốm làm việc ở các lò gốm Nangawa gần Arita. Sứ Kakiemon là loại gốm sứ chất lượng cao được sản xuất trong các thế kỷ 18, 19, 20. Sakaida Kizaemon (1596-1666) trong lịch sử đã được coi là loại sứđầu tiên được phủ men của Nhật Bản, nhưng gần đây các nhà nghiên cứu cho rằng điều đó là thiếu chuẩn xác và men Kakiemon chính xác là có niên đại sau sứ men Hizen.

33. KRAAK: Đồ Kraak được sản xuất và cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17. Suốt thời Vạn Lịch (1573 - 1620) một loại gốm sứ được trang trí theo kiểu phân mảng và trở nên nổi tiếng với tên gọi Kraak, lấy theo tên một con tàu buôn Bồ Đào Nha được gọi là Caraak, vì con tàu này đã trở loại sứ này và những hàng hoá khác của Trung Quốc bị Hà Lan bắt lại ở Malacca vào năm 1603 và dẫn đến Amsterdam. Đây là loại đồ sứ đầu tiên được trở đến Châu Âu với số lượng lớn và đặc biệt nó đã gây ảnh hưởng lớn tới đồ sứ Châu Âu và sứ Hà Lan.

Là một phân loại của đồ Phấn thái. Đồ án Famille noire cơ bản là đồ án phấn thái trên nền đen. Có được màu đen là do cốt gốm được tráng một nước men áo bằng cô ban. Sau đó lại được phủ lên bằng một lớp men chì màu xanh đồng.


34. MEN LÔNG THỎ: Một dạng đường kẻ có màu nâu, thường thấy trên đồ Jian đen, được sản xuất ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Một loại bình của Trung Quốc, cổ bình thu hẹp, thân cao, vai thon, đế bình thu hẹp, vốn được sử dụng làm bình rượu. Dưới Triều Tống (960-1279), bình được đổi tên thành mai bình vì nó được sử dụng để cắm hoa mai. Cũng kể từ đó những chiếc bình có kiểu dáng như nêu trên được gọi là Mai Bình. Mai Bình trở thành loại hình đồ gốm đặc trưng của thời Nguyên (1279 - 1368) và Minh (1368 - 1644).

35. MEN: Là dung dịch khoáng được dùng làm áo ngoài cho đồ gốm sứ, lớp áo này sẽ trở nên bóng như gương khi được nung đốt, được dùng để trang trí hay gắn bề mặt của đồ gốm sứ. Cốt thai có thể được nhúng vào men, vẽ bằng men, hay sịt men bằng bình sịt trước khi được nung đốt.

36. NABESHIMA: Lò sứ đầu tiên cho Nabeshima được lập lên ở Iwayakawa-chi vào khoảng năm 1630, sau này chuyển đến Okochiyama. Việc sản xuất ở đây được tiến hành dưới sự giám sát của Saga Daimyo Lord Nabeshima, những sản phẩm gốm sứ này chủ định được sản xuất ra để phục vụ Daimyo, và vì vậy chất lượng của chúng thật tuyệt hảo. Sau này vào thế kỷ 19 những sản phẩm này được sản xuất ra để phục vụ cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu. Đặc trưng của Nabeshima là lối vẽ phác thảo được thực hiện bằng màu xanh dưới men, tiếp theo được tráng men đa thái. Các đồ hình trang trí tuyệt mỹ và hoàn hảo.

37. NUNG ĐỐT: Được nung ở trong lò nóng. Nung nhiệt độ cao (1200-1400 độ C), sản xuất ra đồ sứ, nung ở múc nhiệt trung bình (1200-1280 độ ) cho ra các sản phẩm sành da đá. Đất nung được nung ở nhiệt độ thấp (800-1100 độ C).

38. PHÁP HOA: Pháp hoa phát triển rất rực rỡ ở Puzhou và Zezhou thuộc tỉnh Thiểm Tây, sau đó lan đến nhiều nơi khác. Để tạo đồ án pháp hoa người ta vẽ đồ án lên bề mặt món đồ với những gam màu nổi bật lam, lục, tía. Pháp Hoa đầu tiên được đưa vào sử dụng từ cuối Nguyên và thành công rực rỡ ở thời Thanh, đến thời Thanh Càn Long thì ít dần.

39. FEN CAI (PHẤN THÁI ): Nghĩa đen là tập hợp những màu hồng. Đồ án phấn thái được bắt đầu sử dụng từ cuối thời Khang Hi, ở đó màu chủ đạo là màu hồng sẫm và đỏ son. Màu hồng có được là do việc cho thêm một lượng keo bằng vàng vào ô xít chì - kali-silic. Những món đồ được trang trí với đồ án phấn thái đẹp nhất được sản xuất từ thời Thanh, Ung Chính. Đồ án Phấn thái là kết quả của sự kết hợp khéo léo giữa kỹ thuật vẽ đồ án truyền thống với việc tối ưu hoá sự linh hoạt của lối vẽ để tạo ra đồ án nhiều lớp. Sau khi đã vẽ song đường viền của đồ án, người ta sẽ vẽ thẳng “Pha lê trắng - 玻璃白色” lên cốt thai. Sau đó màu sẽ được trộn với nước hoặc dầu chuyên dụng để vẽ lên. Cuối cùng là quá trình nung đốt. Phấn thái được phát triển từ kỹ thuật men Ngũ thái và cũng là một thành tựu mới của sứ Thanh. Người ta phát minh ra lối trang trí này từ thời Khang Hy, nhưng ban đầu, sản phẩm không mấy thành công. Mãi đến thời Ung Chính, sứ Phấn thái mới được sản xuất rộng rãi và đạt được độ tinh mỹ.

40. PHONG CÁCH CLOISONNE: Là lối sử dụng xen kẽ để lộ các mảng cốt thai giữa các mảng men màu khi trang trí món đồ.

41. QUÂN DIÊU: Quân diêu, thời Tống được coi là một trong "ngũ cổ" diêu của Trung Quốc, Quân diêu nằm ở huyện Yu, tỉnh Hà Nam (Henan). Những phát hiện khảo cổ học ở diêu chỉ Baguodong chứng minh được rằng di chỉ này từng là nơi sản xuất đồ ngự dụng, đặc biệt là chậu gốm, ang rửa bút và bình để phục vụ hoàng đế Tống Huệ tông. Đồ Quân diêu nổi tiếng với nước men dày, sau này nơi đây còn có những sản phẩm tuyệt đẹp với nước men màu trắng bạc như màu của ánh trăng, màu xanh da trời và màu đỏ của hoa hồng. Đồ Quân diêu thường được đánh số từ một đến mười để chỉ cỡ của món đồ, số một là lớn nhất, số mười là nhỏ nhất.

42. RẠN: Một tập hợp các vết rạn men. Vết rạn được hình thành khi không có sự tương thích giữa men và cốt thai.

43. RURI: Gốm sứ trơn phủ men xanh.

44. SEIJI (THANH TỪ): Là loại gốm celadon trơn men xanh lục nhạt.

45. SHOKI-IMARI: Đây là loại Imari cổ xưa và lâu đời nhất được sản xuất thể theo lối sử dụng và sở thích của người Nhật Bản. Các nhà nghiên cứu cho rằng Sokhi-Imari có niên đại từ khi đồ gốm sứ bắt đầu được sản xuất, khoảng năm 1620 cho đến khi bắt đầu mở rộng buôn bán xuất khẩu với Hà Lan và Cận Đông năm 1659. Shoki-Imari trở nên hiếm hoi và đắt đỏ, và hiếm khi tìm thấy bên ngoài Nhật Bản.

46. SOMETSUKE: Một thuật ngữ theo tiếng Nhật có nghĩa là Imari được trang trí thanh hoa dưới men.

47. STRAITS CHINESE PORCELAIN: Sứ sản xuất để phục vụ cho cộng đồng người Hoa ở Penang, Malacca và Singapore. Một thuật ngữ cổ hơn để chỉ đồ này là đồ Nonya (Nyonya), đồ sứ dành cho những người phụ nữ Trung Quốc đã kết hôn ở Singapore.

48. SWATOW: Sứ Swatow được sản xuất ở tỉnh Fukien, Trung Quốc và cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17 để xuất khẩu, hình dáng và lối trang trí rất đa dạng tuỳ theo đất nước mà chúng được xuất khẩu đến. Đồ sứ Swatow có đặc điểm nổi bật là đế có cát, men xám thô, và trang trí men xanh rất mờ (ngả xám).

49. VĂN CHẢI: Là lối trang trí với những chấm hay kẻ sọc được tạo ra bằng cách ấn răng lược hoặc cào răng lược trên cốt thai còn ẩm.

50. WUCAI (NGŨ THÁI): Ngũ thái là một thuật ngữ đề cập đến các màu đỏ, vàng, lục, lam và đỏ tía được dùng để vẽ đồ án trên men. Ngũ thái là sáng tạo của những thợ gốm thời Minh Tuyên Đức. Thanh hoa ngũ thái thì xuất hiện đầu tiên ở thời Thành Hoá giờ trở nên rất quý hiếm. Ngũ thái thời Hoằng Trị nổi tiếng với các đồ án tùng, trúc, mai…Trong thời Chính Đức, có ngũ thái trên men, nhưng ít. Khi phấn thái ra đời thì số lượng đồ Ngũ thái lại giảm dần nhưng vẫn duy trì sản xuất trong suốt thời Ung Chính.

(xuonggomsubattrang.vn sưu tầm)
 

Chia sẻ :

Xem thêm :

0 Comments

Gửi bình luận

* Rating     Bad           Good